Tin tức
Chưa đủ chặt thì lu thêm? Khoan, xem nhiệt độ đã
Độ chặt lớp bê tông nhựa phụ thuộc vào thời gian hỗn hợp còn đủ nóng, tốc độ và chế độ rung của lu. Khi lớp rải đã nguội, lu thêm lượt gần như không giúp được gì.

Trên công trường có một niềm tin khá phổ biến: độ chặt chưa đạt thì cho lu thêm vài lượt. Nghe rất hợp lý, cho đến khi lớp nhựa đã nguội. Lúc đó lu thêm chỉ tốn thêm dầu, còn độ chặt thì gần như đứng yên.
Bê tông nhựa giống nắm cơm. Cơm còn nóng thì bóp một cái là thành nắm, cơm nguội rồi thì bóp mấy cũng rời. Lu lèn cũng vậy: phải tranh thủ lúc hỗn hợp còn đủ nóng để đá còn xê dịch và xếp chặt vào nhau.
Canh nhiệt độ, đừng chỉ canh số lượt
Nhiệt độ bắt đầu và kết thúc lu khác nhau theo loại nhựa và loại hỗn hợp, nên đừng đem một cặp số áp cho mọi công trình. Lớp mỏng, nền lạnh, trời gió thì lớp rải nguội rất nhanh, thời gian lu được co lại đáng kể. Cách chắc ăn nhất là xác định khoảng nhiệt độ lu ngay trên đoạn rải thử, với đúng hỗn hợp đang dùng.
Lu sơ bộ nên bám sát máy rải khi hỗn hợp đã đủ ổn định. Nếu thấy lớp rải bị đẩy trượt trước trống lu hoặc nứt chân chim, đừng vội tăng lực. Xem lại nhiệt độ và chế độ lu trước, vì vấn đề thường nằm ở đó.
Lu chạy nhanh thì mặt đường gợn sóng
Với lu rung, trống lu đập xuống mặt đường theo nhịp rung. Lu chạy càng nhanh thì mỗi mét đường nhận càng ít nhát đập, đến một lúc mặt đường bắt đầu gợn như mặt ván giặt. Ở tần số rung thông thường, tốc độ cỡ người đi bộ nhanh, khoảng 4–5 km/h, là mức hay dùng. Còn máy cụ thể thì vẫn phải xem hướng dẫn của hãng.
Khi đoàn lu bị máy rải bỏ lại phía sau, phản xạ đầu tiên thường là cho lu chạy nhanh lên. Làm vậy vừa giảm độ chặt vừa sinh gợn. Hợp lý hơn là thêm một lu, hoặc cho máy rải chạy chậm lại cho khớp nhịp. Đoàn thi công là một đội, đâu phải cuộc đua.
Biên độ lớn chưa chắc đã tốt
Biên độ lớn nghe thì mạnh mẽ, nhưng không phải lúc nào cũng cho kết quả tốt hơn. Nhiều trường hợp nên bắt đầu với tần số cao, biên độ thấp rồi điều chỉnh dần. Lớp dày hoặc hỗn hợp khó lu mới thật sự cần đến biên độ lớn.
Với lớp rất mỏng, dưới khoảng 25 mm sau lu, thường nên lu tĩnh hoặc tắt rung. Rung mạnh trên lớp mỏng thì trống lu nảy như xe máy chạy qua đường xóc, đá vỡ, mặt đường gợn. Cấu hình đang chạy tốt cho lớp dày thì cứ để dành cho lớp dày.
Một điểm đo chưa nói được nhiều
Súng bắn nhiệt chỉ cho biết nhiệt độ đúng một điểm nó chĩa vào. Vệt nguội nằm cách đó nửa mét thì nó không biết. Camera nhiệt hoặc thanh cảm biến gắn sau bàn là mới cho thấy cả bức tranh. Vệt nguội hay xuất hiện ở chỗ máy rải dừng chờ xe, hoặc ở phần vật liệu cuối thùng xe.
Thấy vệt nguội thì ghi lại lý trình, đối chiếu với giờ xe đến và những lần máy dừng, rồi kiểm tra độ chặt đúng chỗ đó. Nhiệt độ bề mặt chỉ là dấu hiệu, không thay được kết quả kiểm tra độ chặt.
Độ chặt phải đo mới biết
Trên đoạn rải thử, đo độ chặt sau từng nhóm lượt lu để biết đến lượt thứ mấy thì độ chặt thôi tăng. Từ đó mới có sơ đồ lu cho cả công trình. Khi hỗn hợp đã nguội hoặc đã chặt đến giới hạn, lu thêm cũng không lên nữa. Lúc đó nên xem lại thời điểm lu, nhiệt độ và sơ đồ lu thay vì cứ thêm lượt.
Sổ nhật ký lu nên ghi loại lu, chế độ rung, tốc độ, số lượt qua từng điểm, nhiệt độ và kết quả kiểm tra. Cũng nên thống nhất cách đếm từ đầu: lu đi qua một điểm rồi quay về qua đúng điểm đó là hai lượt. Nghe thì hiển nhiên, nhưng không ít buổi giao ban đã tranh luận đúng chuyện này.
Làm đúng hết mà lu vẫn rung yếu, quả văng kêu lạ hay tần số không lên đủ thì đó là chuyện của máy. Đội kỹ thuật Vũ Gia sẵn lòng xuống kiểm tra máy lu cùng anh em.